MỐI QUAN HỆ GIỮA SỰ CỨU CHUỘC VÀ SỰ SÁNG TẠO Chúng ta cần lưu ý đến mối quan hệ giữa sự cứu chuộc và sự sáng tạo. Bằng bất cứ cách nào chúng ta cũng không nên cho rằng Kinh-thánh không nói gì khác hơn là sự cứu chuộc. Tạ ơn Đức Chúa Trời vì ngoài sự cứu chuộc còn có sự sáng tạo. Lòng mong muốn của Đức Chúa Trời được bày tỏ trong sự sáng tạo. Mục tiêu của Đức Chúa Trời, kế hoạch của Ngài và ý muốn định trước của Ngài đều bày tỏ trong sự sáng tạo của Ngài. Sự sáng tạo tiết lộ mục đích đời đời của Đức Chúa Trời, bày tỏ cho chúng ta thấy điều mà Ngài thật sự tìm kiếm. Vị trí của sự cứu chuộc không thể cao hơn vị trí của sự sáng tạo. Cứu chuộc là gì? Cứu chuộc là phục hồi những gì Đức Chúa Trời chưa đạt được qua sự sáng tạo. Cứu chuộc không đem đến điều gì mới cho chúng ta, mà chỉ phục hồi lại cho chúng ta những gì vốn thuộc về chúng ta. Qua sự cứu chuộc, Đức Chúa Trời đạt được mục đích của Ngài trong sự sáng tạo. Cứu chuộc nghĩa là phục hồi và khôi phục; sáng tạo nghĩa là quyết định và bắt đầu. Cứu chuộc là một điều đến sau, để mục đích của Đức Chúa Trời trong sự sáng tạo được hoàn thành. Ôi, mong rằng các con cái Chúa không xem thường sự sáng tạo và nghĩ rằng sự cứu chuộc là tất cả. Sự cứu chuộc có liên quan đến chúng ta, làm cho chúng ta được ích lợi bằng cách cứu chúng ta và ban cho chúng ta sự sống vĩnh cửu. Nhưng sự sáng tạo liên quan đến Đức Chúa Trời và công tác của Ngài. Mối quan hệ của chúng ta với sự cứu chuộc là vì lợi ích của con người, trong khi mối quan hệ của chúng ta với sự sáng tạo là vì gia tể của Đức Chúa Trời. Nguyện Đức Chúa Trời làm một điều mới mẻ trên trái đất này để con người không chỉ nhấn mạnh đến việc rao giảng Phúc-âm nhưng tiến tới hơn nữa để quan tâm đến công tác của Đức Chúa Trời, công việc của Ngài, và kế hoạch của Ngài. Thật ra, chúng ta nên rao giảng Phúc-âm với ý định là đem trái đất trở lại với Đức Chúa Trời.(sáng 1:28) Chúng ta phải bày tỏ sự đắc thắng của Đấng Christ trên vương quốc của Sa-tan. Nếu chúng ta không phải là Cơ-đốc-nhân, đó là điều khác. Nhưng một khi đã trở thành những Cơ-đốc-nhân, chúng ta không nên chỉ nhận lấy lợi ích của sự cứu chuộc, nhưng cũng đạt được mục đích của Đức Chúa Trời trong sự sáng tạo. Không có sự cứu chuộc, chúng ta không bao giờ có liên quan gì với Đức Chúa Trời. Nhưng một khi đã được cứu, chúng ta cần dâng chính mình cho Đức Chúa Trời để đạt được mục tiêu mà vì đó Ngài đã sáng tạo con người lúc ban đầu. Nếu chúng ta chỉ chú ý đến việc rao giảng Phúc-âm, đó chỉ mới là một nửa vấn đề. Đức Chúa Trời đòi hỏi phân nửa kia để con người có thể cai trị cho Ngài trên đất và không cho phép Sa-tan lưu lại đây lâu hơn nữa. Phân nửa này cũng đòi hỏi ở hội-thánh. Hê-bơ-rơ chương 2 cho chúng ta thấy rằng sự cứu chuộc không chỉ vì sự tha thứ tội lỗi để con người được cứu, nhưng cũng để phục hồi con người lại cho mục đích của sự sáng tạo. Sự cứu chuộc có thể so sánh với thung lũng ở giữa hai đỉnh núi. Khi một người xuống khỏi một đỉnh núi để tiếp tục lên đỉnh núi kia, người ấy gặp sự cứu chuộc tại nơi thấp nhất của thung lũng. Cứu chuộc chỉ có nghĩa là ngăn không cho con người sa ngã thêm và nâng họ lên. Một mặt, ý muốn của Đức Chúa Trời là vĩnh cửu và thẳng tắp, không có chỗ trũng nào cả để mục tiêu của sự sáng tạo có thể được hoàn thành. Mặt khác, có một điều gì đó đã xảy ra. Con người đã sa ngã, và lìa bỏ Đức Chúa Trời. Khoảng cách giữa họ và mục tiêu đời đời của Đức Chúa Trời càng ngày càng xa hơn. Ý muốn của Đức Chúa Trời từ đời đời đến đời đời là một đường thẳng, nhưng từ khi sa ngã, con người không thể đạt đến ý muốn ấy. Tạ ơn Đức Chúa Trời, có một phương thuốc gọi là sự cứu chuộc. Khi sự cứu chuộc đến, con người không cần phải đi xuống nữa. Sau sự cứu chuộc, con người được thay đổi và bắt đầu đi lên. Vì con người tiếp tục vươn lên, sẽ đến một ngày họ lại chạm đường thẳng ấy. Ngày họ đạt đến đường thẳng ấy là ngày vương quốc sẽ đến. Chúng ta tạ ơn Đức Chúa Trời vì chúng ta có sự cứu chuộc. Nếu tách rời khỏi sự cứu chuộc, càng ngày chúng ta sẽ càng chìm xuống sâu hơn; chúng ta sẽ bị Sa-tan đàn áp càng ngày càng nhiều cho đến khi không còn cách nào chỗi dậy được. Ngợi khen Đức Chúa Trời, sự cứu chuộc làm cho chúng ta trở lại với mục đích đời đời của Đức Chúa Trời. Điều Đức Chúa Trời không đạt được trong sự sáng tạo mà con người đã đánh mất trong sự sa ngã thì trong sự cứu chuộc đã hoàn toàn chiếm lại được. Chúng ta phải xin Đức Chúa Trời mở mắt chúng ta thấy những gì Ngài đã làm để đời sống và công tác của chúng ta có thể có một sự thay đổi thật sự. Nếu tất cả công tác của chúng ta chỉ là cứu người, chúng ta vẫn thất bại và không thể thỏa mãn lòng Đức Chúa Trời. Cả sự cứu chuộc lẫn sự sáng tạo đều để nhận lấy vinh quang và lật đổ tất cả quyền lực của ma quỉ. Chúng ta hãy tuyên bố tình yêu của Đức Chúa Trời và uy quyền của Ngài khi chúng ta thấy tội lỗi và sự sa ngã của con người. Nhưng đồng thời, chúng ta phải thi hành uy quyền thuộc linh để đánh bại quyền lực của Sa-tan. Sứ mạng của hội-thánh ngày nay có hai mặt: làm chứng về sự cứu rỗi của Đấng Christ và làm chứng về sự đắc thắng của Đấng Christ. Một mặt, hội-thánh phải đem lợi ích đến cho con người, và mặt khác, hội-thánh phải làm cho Sa-tan bị thiệt hại nặng nề. SỰ NGHỈ NGƠI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI Trong suốt sáu ngày Đức Chúa Trời thực hiện công tác sáng tạo, sự sáng tạo con người thật là đặc biệt. Tất cả công tác suốt sáu ngày của Ngài là vì điều này. Đích nhắm thật của Ngài là tạo dựng con người. Để có thể làm điều này, trước hết Đức Chúa Trời phải sửa lại đất và trời đã bị hư hoại. (Sáng. 2:4 chép: “Đây là gốc tích các từng trời và trái đất khi chúng được sáng tạo, vào ngày Chúa là Đức Chúa Trời đã tạo nên trái đất và các từng trời”. “Các từng trời và trái đất” nói về sự sáng tạo ban đầu, vì lúc ấy các từng trời được tạo thành trước và rồi đến trái đất. Nhưng phần thứ hai: “vào ngày Chúa là Đức Chúa Trời đã làm nên trái đất và các từng trời”, nói về công tác sửa chữa và phục hồi, vì trong công tác này, trái đất được quan tâm trước rồi đến trời). Sau khi Đức Chúa Trời phục hồi trái đất và trời đã bị hư hoại ấy, Ngài tạo dựng con người theo ý định của Ngài. Sau ngày thứ sáu là ngày thứ bảy; vào ngày này, Đức Chúa Trời nghỉ ngơi khỏi mọi công việc của Ngài. Sự nghỉ ngơi đến sau công việc: công việc phải đi trước và rồi sự nghỉ ngơi sẽ theo sau. Hơn nữa, công việc phải được hoàn tất cách hoàn toàn mỹ mãn trước khi có sự nghỉ ngơi. Nếu công việc chưa hoàn thành mỹ mãn, tâm trí hay tấm lòng không bao giờ được nghỉ ngơi. Vì vậy, chúng ta không nên xem nhẹ sự kiện Đức Chúa Trời nghỉ ngơi sau sáu ngày sáng tạo. Vì đối với Đức Chúa Trời, nghỉ ngơi là một việc quan trọng. Ngài cần đạt được một mục tiêu nào đó trước khi Ngài có thể nghỉ ngơi. Quyền năng làm cho một Đức Chúa Trời là Đấng Sáng tạo như vậy phải nghỉ ngơi hẳn là một quyền năng lớn lao biết bao! Để khiến một Đức Chúa Trời như vậy, là Đấng hoạch định rất nhiều điều và là Đấng đầy dẫy sự sống, đi vào sự nghỉ ngơi đòi hỏi một sức mạnh lớn lao nhất. Sáng-thế Ký chương 2 cho chúng ta thấy Đức Chúa Trời nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy. Làm thế nào Đức Chúa Trời có thể nghỉ được? Phần cuối Sáng-thế Ký chương 1 ghi lại rằng vì “Đức Chúa Trời thấy mọi việc Ngài đã làm thật rất tốt lành” (c. 3). Đức Chúa Trời nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy. Trước ngày thứ bảy, Ngài phải làm việc, và trước khi làm việc, Ngài có một mục đích. Rô-ma chương 11 nói đến tâm trí của Chúa, sự phán xét của Ngài và đường lối Ngài. Ê-phê-sô chương 1 nói về sự huyền nhiệm của ý muốn Ngài, sự vui mừng của Ngài và mục tiêu định trước của Ngài. Ê-phê-sô chương 3 cũng nói về mục đích đã định trước của Ngài. Qua những phần Kinh-thánh này, chúng ta kết luận được rằng Đức Chúa Trời không những là một Đức Chúa Trời làm việc, nhưng Ngài còn là Đức Chúa Trời có chủ đích và kế hoạch. Khi Ngài thích làm việc, Ngài tiến hành công việc; Ngài làm việc vì Ngài mong muốn làm việc. Khi Ngài được thỏa lòng với công việc của mình, Ngài nghỉ ngơi. Nếu chúng ta ao ước biết ý muốn của Đức Chúa Trời, kế hoạch của Ngài, sự vui thỏa của Ngài, và mục đích của Ngài, chúng ta chỉ phải nhìn vào những gì làm cho Ngài an nghỉ. Nếu chúng ta thấy Đức Chúa Trời nghỉ ngơi trong một điều nào đó, khi ấy chúng ta có thể biết đó là điều Ngài theo đuổi từ ban đầu. Loài người cũng không thể nghỉ ngơi trong điều mình không thỏa lòng; họ phải đạt được điều mình tìm kiếm thì họ mới nghỉ ngơi. Chúng ta không được xem nhẹ sự nghỉ ngơi này vì ý nghĩa của nó rất quan trọng. Đức Chúa Trời không nghỉ ngơi trong sáu ngày đầu nhưng Ngài nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy. Sự nghỉ ngơi của Ngài bày tỏ rằng Đức Chúa Trời hoàn thành điều lòng Ngài ao ước. Điều Ngài thực hiện làm cho Ngài vui thỏa. Vì vậy, Ngài có thể nghỉ ngơi. Chúng ta phải lưu ý chữ “ngắm nhìn” trong Sáng-thế Ký 1:31. Điều này có ý nghĩa gì? Khi chúng ta mua một vật nào đó mà mình đặc biệt thỏa lòng, chúng ta xoay nó qua lại cách thích thú và ngắm nghía kỹ lưỡng. Đây là ý nghĩa của chữ ngắm nhìn. Đức Chúa Trời không chỉ nhìn cách bình thường những gì mà Ngài đã tạo dựng và thấy là tốt lành. Trái lại, Ngài “ngắm nhìn” mọi vật Ngài đã tạo dựng và thấy chúng rất tốt lành. Chúng ta cần lưu ý rằng Đức Chúa Trời ở tại cõi sáng tạo “ngắm nhìn” những gì Ngài đã tạo dựng. Chữ “nghỉ ngơi” là một sự tuyên bố rằng Đức Chúa Trời thỏa mãn, Ngài vui thích trong những gì Ngài đã làm nên; từ ngữ này công bố Đức Chúa Trời đã đạt được mục tiêu và sự thỏa lòng của Ngài đạt đến mức độ đầy đủ nhất. Công tác của Ngài hoàn hảo đến mức khó có thể được thực hiện tốt hơn. Vì lý do này Đức Chúa Trời ra lệnh cho dân Y-sơ-ra-ên giữ ngày Sa-bát suốt các thế hệ. Đức Chúa Trời theo đuổi một điều gì đó. Đức Chúa Trời tìm kiếm một điều gì đó để thỏa mãn chính Ngài và Ngài đã đạt được; vì vậy, Ngài nghỉ ngơi. Đây là ý nghĩa của ngày Sa-bát. Ấy không phải là con người nên mua sắm ít hơn hay đi bộ ngắn hơn vài dặm đường. Ngày Sa-bát cho chúng ta biết Đức Chúa Trời có một sự mong muốn trong lòng, một sự đòi hỏi cần để thỏa mãn chính Ngài, và một công tác phải được thực hiện để hoàn thành nỗi mong muốn và sự đòi hỏi của lòng Ngài. Vì Đức Chúa Trời đạt được điều Ngài theo đuổi, nên Ngài nghỉ ngơi. Đây không phải là vấn đề một ngày đặc biệt. Ngày Sa-bát cho chúng ta biết Đức Chúa Trời đã hoàn thành kế hoạch của Ngài, đạt được mục tiêu của Ngài và đã thỏa lòng. Đức Chúa Trời là Đấng đòi hỏi sự thỏa lòng, và Ngài cũng là Đấng có thể thoả mãn. Sau khi Đức Chúa Trời có được điều Ngài mong muốn thì Ngài nghỉ ngơi. Thế thì điều gì đã đem đến sự nghỉ ngơi cho Đức Chúa Trời? Điều gì đã làm Ngài thỏa mãn như vậy? Trong sáu ngày sáng tạo đã có ánh sáng, không trung, cỏ cây hoa lá; đã có mặt trời, mặt trăng, và các vì sao; đã có cá, chim, trâu bò, các loài bò sát và dã thú. Nhưng trong tất cả mọi điều ấy, Đức Chúa Trời không tìm được sự nghỉ ngơi. Cuối cùng có con người, và Đức Chúa Trời nghỉ ngơi khỏi mọi công việc. Tất cả cõi sáng tạo trước khi có con người là sự chuẩn bị. Mọi sự mong đợi của Đức Chúa Trời tập trung nơi con người. Khi Đức Chúa Trời có được con người, Ngài thỏa mãn và Ngài nghỉ ngơi. Chúng ta hãy đọc Sáng-thế Ký 1:27-28 một lần nữa: “Vậy, Đức Chúa Trời tạo dựng loài người theo chính hình ảnh của Ngài, Ngài tạo dựng con người theo hình ảnh Đức Chúa Trời; Ngài tạo dựng họ, người nam và người nữ. Và Đức Chúa Trời ban phước cho họ, và Ngài phán với họ: Hãy sinh sản, gia tăng bội phần, và làm cho đầy dẫy đất, bắt trái đất phục tùng, và thống trị trên cá biển, chim trời, và mọi vật sống chuyển động trên mặt đất”. Bây giờ xin đọc Sáng-thế Ký 1:31 và Sáng-thế Ký 2:3: “Và Đức Chúa Trời nhìn mọi sự Ngài đã làm, và thấy rất tốt lành... Đức Chúa Trời ban phước cho ngày thứ bảy, và biệt riêng ngày ấy: vì trong ngày ấy, Đức Chúa Trời nghỉ mọi công việc Ngài đã sáng tạo và làm nên”. Đức Chúa Trời có một mục đích, và mục đích này là có được con người, tức con người với uy quyền để cai trị trên trái đất. Chỉ có nhận thức được mục đích này mới có thể làm thỏa lòng Đức Chúa Trời. Nếu đạt được điều này, mọi sự sẽ tốt đẹp. Vào ngày thứ sáu Đức Chúa Trời đã hoàn thành được mục tiêu này. “Đức Chúa Trời nhìn mọi sự Ngài đã làm, và thấy thật rất tốt lành... và Ngài nghỉ ngơi khỏi mọi công việc Ngài vào ngày thứ bảy”. Đức Chúa Trời đã đạt được mục đích và sự mong đợi của Ngài; Ngài có thể dừng lại và nghỉ ngơi. Sự an nghỉ của Đức Chúa Trời dựa trên con người là những người sẽ cai trị. Trong sự sáng tạo có hai nhân vật đã được tạo dựng: một là A-đam và người kia là Ê-va. Cả hai đều là những con người được tạo dựng, nhưng mỗi người tượng trưng cho một điều khác biệt. 1 Cô-rin-tô chương 15 nói rằng A-đam là biểu tượng của Chúa Giê-su, và Rô-ma chương 5 nói A-đam là hình ảnh tượng trưng của Đấng phải đến. Thế thì, A-đam là hình bóng đến trước của Đấng Christ; ông mô tả Đấng Christ trong hình ảnh tượng trưng. Nói cách khác, tất cả những gì Đức Chúa Trời định trong A-đam đều phải hoàn thành trong Đấng Christ. Nhưng trong cõi sáng tạo ngoài A-đam còn có một người nữ là Ê-va. Đức Chúa Trời rất cẩn thận ghi lại sự sáng tạo người nữ này trong Sáng-thế Ký chương 2, và khi đến Ê-phê-sô chương 5 chúng ta được bày tỏ rõ ràng rằng Ê-va tượng trưng cho hội-thánh. Vì vậy, chúng ta có thể thấy ý muốn đời đời của Đức Chúa Trời được thành tựu một phần qua Đấng Christ và một phần qua hội-thánh. Để hiểu được thế nào hội-thánh có thể hoàn thành được ý muốn của Đức Chúa Trời trên đất, chúng ta phải học hỏi từ Ê-va. Mục đích của cuốn sách này không phải để thảo luận về biểu tượng A-đam. Vì vậy, chúng ta sẽ không xem xét vấn đề đó tại đây; trái lại, sự nhấn mạnh ở đây là vào Ê-va. Chúng ta không tập trung suy nghĩ của mình vào công tác của Đấng Christ, nhưng vào vị trí của hội-thánh trong mối tương quan với công tác ấy. Khi đọc Sáng-thế Ký 2:18-24 và Ê-phê-sô 5:22-32 chúng ta thấy một người nữ được đề cập ở cả hai nơi. Trong Sáng-thế Ký chương 2 có một người nữ, và trong Ê-phê-sô chương 5 cũng có một người nữ. Người nữ đầu tiên là một dấu hiệu tượng trưng cho hội-thánh; người nữ thứ hai là người nữ thứ nhất. Người nữ thứ nhất được Đức Chúa Trời hoạch định trước khi tạo lập thế giới và xuất hiện trước sự sa ngã. Người nữ thứ hai cũng được hoạch định trước khi tạo dựng thế giới nhưng được khải thị sau sự sa ngã. Mặc dầu một người xuất hiện trước sự sa ngã và người kia xuất hiện sau sự sa ngã, nhưng trong cái nhìn của Đức Chúa Trời không có gì khác biệt: hội-thánh là Ê-va trong Sáng-thế Ký chương 2. Đức Chúa Trời tạo dựng A-đam để tượng trưng cho Đấng Christ; Ngài cũng tạo dựng Ê-va để tượng trưng cho hội-thánh. Mục đích của Đức Chúa Trời không những được hoàn thành bởi Đấng Christ, mà cũng được hoàn thành bởi hội-thánh nữa. Trong Sáng-thế Ký 2:18, Chúa là Đức Chúa Trời phán: “Con người ở một mình không tốt; ta sẽ dựng nên cho người một người giúp đỡ tương xứng”. Mục đích của Đức Chúa Trời trong việc tạo dựng hội-thánh là để hội-thánh có thể làm người giúp đỡ tương xứng với Đấng Christ. Một mình Đấng Christ chỉ mới là một nửa; cần phải có một nửa kia, là hội-thánh. Đức Chúa Trời phán: “Con người ở một mình không tốt”. Điều này có nghĩa là theo mắt Đức Chúa Trời, một mình Đấng Christ chưa đủ. Sáng-thế Ký 2:18-24 lập lại những sự kiện sáng tạo vào ngày thứ sáu. Vào ngày thứ sáu, Đức Chúa Trời tạo dựng A-đam, nhưng sau đó dường như Ngài cân nhắc một chút và nói: “Không được, con người ở một mình không tốt”. Vì vậy, Ngài tạo dựng Ê-va cho A-đam. Khi ấy, mọi sự đều hoàn tất, và chúng ta thấy Sáng-thế Ký chương 1 kết thúc với lời này: “Và Đức Chúa Trời nhìn mọi sự Ngài đã tạo dựng, và thấy rất tốt lành” (c. 31). Qua điều này, chúng ta nhận thấy một mình A-đam, hay có thể nói, một mình Đấng Christ chưa đủ để làm thỏa lòng Đức Chúa Trời. Đối với Đức Chúa Trời cần phải có Ê-va nữa, tức là cũng phải có hội-thánh. Khi ấy, Ngài sẽ thỏa lòng. Chúa là Đức Chúa Trời phán: “Con người ở một mình không tốt”. Nói cách khác, Đức Chúa Trời ao ước có cả A-đam lẫn Ê-va. Mục tiêu của Ngài là có một Đấng Christ đắc thắng cộng với một hội-thánh đắc thắng, một Đấng Christ chiến thắng công việc của ma quỉ cộng với một hội-thánh đánh bại công việc của ma quỉ. Mục đích của Ngài là có một Đấng Christ cai trị và một hội-thánh cai trị. Đây là điều Đức Chúa Trời hoạch định vì niềm vui thích của riêng Ngài, và Ngài đã thực hiện điều đó để chính Ngài được thỏa mãn. Điều ấy đã được thực hiện vì Ngài ao ước thực hiện. Đức Chúa Trời ao ước có Đấng Christ, và Ngài cũng ao ước có hội-thánh giống y như Đấng Christ. Đức Chúa Trời không chỉ ao ước Đấng Christ có quyền thống trị, Ngài còn ao ước có một hội-thánh có quyền thống trị. Đức Chúa Trời cho phép ma quỉ ở trên đất vì Ngài phán: “Hãy để họ”, tức là Đấng Christ và hội-thánh, “cai trị”. Đức Chúa Trời dự định rằng hội-thánh, là đối tượng tương xứng với Đấng Christ, nên tham gia vào việc đối phó với Sa-tan. Nếu hội-thánh không tương xứng với Đấng Christ, mục đích của Đức Chúa Trời sẽ không được thực hiện. Trong chiến tranh, Đấng Christ cần một người giúp đỡ tương xứng và ngay cả trong vinh quang, Ngài cũng cần một người giúp đỡ tương xứng. Đức Chúa Trời đòi hỏi hội-thánh phải giống như Đấng Christ về mọi phương diện. Đức Chúa Trời ao ước Đấng Christ phải có một người giúp đỡ tương xứng. Ê-VA RA TỪ A-ĐAM A-đam cần có một người giúp đỡ tương xứng. Đức Chúa Trời đã làm gì để đáp ứng nhu cầu này? Sáng-thế Ký 2:19-20 ghi: “Và từ bụi đất, Đức Chúa Trời tạo thành mọi loài thú đồng, mọi loài chim trời; và đưa chúng đến trước mặt A-đam để người đặt tên cho chúng: và bất cứ tên nào A-đam gọi mỗi sinh vật, đều trở thành tên của chúng. A-đam đặt tên cho mọi loài gia súc, chim trời, thú đồng; nhưng A-đam không tìm được cho mình một người giúp đỡ nào tương xứng cả”. Đức Chúa Trời đem mọi loại sinh vật đến trước mặt A-đam, nhưng ông không tìm được một người giúp đỡ tương xứng giữa vòng chúng nó. Không một sinh vật nào làm bằng bụi đất có thể làm một người giúp đỡ tương xứng với A-đam. Vì vậy, “Chúa là Đức Chúa Trời làm cho A-đam ngủ say, và người ngủ; rồi Ngài lấy một xương sườn, lắp thịt thế vào. Chúa là Đức Chúa Trời dùng xương sườn mà Ngài đã lấy từ con người, tạo nên một người nữ, đem đến cho con người. A-đam nói: Đây là xương của xương tôi, thịt của thịt tôi: người được gọi là Người Nữ, vì lấy ra từ Người Nam” (cc. 21-23). Đây là người giúp đỡ tương xứng và là hình ảnh tượng trưng của hội-thánh trong Ê-phê-sô chương 5. Kinh-thánh nói rất rõ tất cả những gì làm bằng bụi đất, không phải lấy từ thân thể của A-đam không thể là người giúp đỡ tương xứng với ông. Tất cả các loài thú đồng, gia súc và chim trời đều làm bằng bụi đất. Chúng không được lấy ra từ A-đam; vì vậy chúng không thể làm người giúp đỡ tương xứng với A-đam. Chúng ta phải nhớ Ê-va được hình thành từ một chiếc xương sườn lấy từ A-đam; vì vậy, Ê-va là một phần tử cấu thành của A-đam. Điều này có nghĩa là hội-thánh ra từ Đấng Christ. Chỉ có điều nào ra từ Đấng Christ mới có thể là hội-thánh. Bất cứ điều nào không ra từ Đấng Christ không phải là hội-thánh. Chúng ta cần lưu ý một vài từ ngữ trong Sáng-thế Ký 1:26 và 27. Câu 26 ghi: “Và Đức Chúa Trời phán: Chúng ta hãy tạo nên con người theo hình ảnh chúng ta và giống như hình dạng chúng ta: và cho họ...” Trong tiếng Hê-bơ-rơ, chữ “con người” là số ít, nhưng ngay sau đó, đại danh từ số nhiều “họ” được sử dụng. Cùng một cách nói được dùng trong câu 27: “Vậy, Đức Chúa Trời tạo dựng con người theo chính hình ảnh của Ngài, Ngài tạo dựng con người theo hình ảnh Đức Chúa Trời; Ngài tạo dựng họ, người nam và người nữ”. Danh từ “con người” là số ít, nhưng đại danh từ theo sau “họ” là số nhiều. Đức Chúa Trời tạo nên một người; nhưng chúng ta cũng có thể nói Ngài tạo nên hai người! Một là hai, tuy nhiên hai là một vì Ê-va ở trong A-đam. Xin lưu ý thêm điều câu 27 nói: “Đức Chúa Trời tạo dựng con người theo chính hình ảnh của Ngài, Đức Chúa Trời tạo dựng con người theo hình ảnh Đức Chúa Trời; Ngài tạo dựng họ, người nam và người nữ”. Cách Đức Chúa Trời tạo dựng “con người” cũng là cách Ngài tạo dựng “họ”. Không những A-đam được tạo dựng, nhưng Ê-va cũng bao hàm trong ông. “Đức Chúa Trời tạo dựng con người theo hình ảnh của Ngài”. Con người này là số ít và tượng trưng cho Đấng Christ. “Ngài tạo dựng họ theo hình ảnh của Đức Chúa Trời”. “Họ” là số nhiều và tượng trưng cho Đấng Christ và hội-thánh. Đức Chúa Trời không những muốn có một Con độc sanh, Ngài cũng muốn có nhiều con. Nhiều con này cũng phải giống như Con Một. Qua những câu này chúng ta thấy nếu hội-thánh không ở trong tình trạng tương xứng với Đấng Christ, Đức Chúa Trời sẽ không nghỉ ngơi và công việc Ngài sẽ không hoàn tất. Không những A-đam là hình ảnh của Đức Chúa Trời, mà Ê-va cũng vậy. Không những Đấng Christ có sự sống của Đức Chúa Trời, hội-thánh cũng phải có sự sống của Đức Chúa Trời. HỘI-THÁNH RA TỪ ĐẤNG CHRIST Thế thì chúng ta nên hỏi: “Hội-thánh là gì?” Hội-thánh là phần được lấy ra từ Đấng Christ. Chúng ta cần phải thấy hai phương diện của A-đam, khi ấy chúng ta sẽ dễ dàng hiểu được điều ấy. Về một mặt, A-đam chỉ là chính ông; mặt khác, ông là một biểu tượng. Nói về chính A-đam, ông làm bằng đất sét. Mọi con người thiên nhiên đều làm bằng đất sét. Nhưng A-đam cũng tượng trưng cho Đấng Christ. Sự kiện Ê-va ra từ A-đam nghĩa là hội-thánh được cấu tạo bằng Đấng Christ. Ê-va được tạo nên bằng xương sườn của A-đam. Vì Ê-va ra từ A-đam, bà vẫn là A-đam. Thế thì hội-thánh là gì? Hội-Thánh là một hình thức khác của Đấng Christ, cũng như Ê-va là một hình thức khác của A-đam. Hội-thánh chính là Đấng Christ. Ôi, có nhiều người nghĩ rằng hội-thánh gồm nhiều “con người” tin Chúa và được cứu họp lại với nhau. Không, điều ấy không đúng! Thế thì điều gì cấu tạo nên hội-thánh? Hội-thánh chỉ là một phần lấy từ Đấng Christ. Nói cách khác, hội-thánh là con người mà Đức Chúa Trời dùng Đấng Christ làm vật liệu để tạo nên. Đó không phải là một con người làm bằng đất sét. Vật liệu của hội-thánh là Đấng Christ. Không có Đấng Christ, hội-thánh không có địa vị, không có sự sống, không có sinh hoạt và không tồn tại được. Hội-Thánh ra từ Đấng Christ. 1 Cô-rin-tô 10:17 chép: “Vì thấy chỉ có một ổ bánh, chúng ta tuy nhiều mà là một Thân Thể”. Câu này nghĩa là mặc dầu chúng ta là nhiều người, nhưng ổ bánh chúng ta bẻ là một; vì vậy, Thân Thể cũng là một. Sứ đồ Phao-lô bày tỏ rõ ràng một ổ bánh tượng trưng cho Thân Thể của Đấng Christ, tức là hội-thánh như một tổng thể. Mặc dầu chúng ta là nhiều, nhưng Thân Thể là một. Khi chúng ta nhớ đến Chúa, tôi lấy một miếng bánh nhỏ từ ổ bánh, anh em lấy một miếng bánh nhỏ từ ổ bánh và những người khác cũng làm như vậy. Qua nhiều thế kỷ trên khắp thế giới, mọi Cơ-đốc-nhân đều cầm lấy một phần nhỏ từ ổ bánh này và ăn! Nếu anh em có thể thâu tất cả những mẩu bánh họ đã ăn và ráp lại với nhau, họ sẽ trở thành cả hội-thánh. Hội-Thánh không phải là một cá nhân “tôi” cộng với một cá nhân “anh”. Không phải một ông A cộng với một ông B, thậm chí cũng không phải tất cả các Cơ-đốc-nhân trên thế giới cộng lại với nhau. Hội-Thánh là Đấng Christ trong anh em, Đấng Christ trong người khác, và Đấng Christ trong mọi Cơ-đốc-nhân khắp thế giới suốt mọi thời đại họp lại với nhau. Con người thiên nhiên của chúng ta không có gì liên quan đến hội-thánh. Phần duy nhất trong chúng ta có liên quan đến hội-thánh là phần của ổ bánh mà chúng ta đã ăn. Điều này được khải thị cách đặc biệt trong Phúc-âm Giăng, nói rằng tất cả những người tin Chúa có Đấng Christ cư trú trong họ và do đó là một trong Linh. Hội-thánh gồm những gì ra từ Đấng Christ. Tài năng, khả năng, tư tưởng, sức mạnh và tất cả những gì họ có đều ở bên ngoài hội-thánh. Mọi điều đến từ sự sống thiên nhiên ở bên ngoài hội-thánh, và bất cứ điều gì được đưa vào hội-thánh thuộc về sự sống thiên nhiên chỉ sẽ phá đổ chứ không gây dựng. Chỉ có điều gì đến từ Đấng Christ mới ở trong hội-thánh. Ê-va không được dựng nên từ đất sét, nhưng từ A-đam, là người tượng trưng cho Đấng Christ. Điều quí báu là Đức Chúa Trời đã lấy một cái xương sườn của A-đam và tạo nên Ê-va. Chỉ có điều gì ra từ A-đam, không phải từ đất sét, mới có thể gọi là “Ê-va”, và chỉ có điều gì ra từ Đấng Christ mới có thể được gọi là hội-thánh. Bất cứ điều nào không đến từ Đấng Christ thì chẳng liên quan gì đến hội-thánh. Một số người rất thành thật trước khi tin Chúa. Sau khi được cứu, họ dùng sự thành thật của mình để phục vụ Đức Chúa Trời. Họ cho rằng sự thành thật của mình là rất ích lợi, và họ hãnh diện về tính thành thật này. Nhưng sự thành thật của họ bắt nguồn từ đâu? Nó có đến từ Đấng Christ không? Nó đã được thập tự giá xử lý chưa? Ôi, nếu nó không ra từ Đấng Christ, nếu nó chưa bao giờ được thập tự giá xử lý, nó không ích lợi gì cho hội-thánh! Ê-va chỉ được cấu tạo bằng những gì ra từ A-đam, cũng vậy, hội-thánh chỉ được cấu tạo bằng những gì ra từ Đấng Christ. Bất cứ điều gì của chính con người thì không phải là hội-thánh. Một vài người có khẩu tài trước khi tin Chúa. Họ kể chuyện và mô tả điều này, điều kia cho người khác một cách dễ dàng. Sau khi được cứu, họ chỉ thay đổi đề tài và bắt đầu giảng. Nhưng chúng ta không nên cho rằng những người như vậy có thể giảng tốt. Trái lại, chúng ta nên hỏi: “Khẩu tài của họ bắt nguồn từ đâu? Đã được thập tự giá xử lý chưa?” Nếu khẩu tài ấy là điều họ vốn có và chưa được thập tự giá xử lý, thế thì nó hoàn toàn ra từ bản chất thiên nhiên của họ. Khẩu tài mà họ đem vào hội-thánh là điều ra từ A-đam bụi đất. Hội-thánh sẽ thật sự bị phá đổ vì những con người như vậy. Chỉ có những gì ra từ Đấng Christ mới là hội-thánh; không một điều nào ra từ bản chất thiên nhiên của con người là hội-thánh được. Chúng ta cũng có thể gặp vài người rất lanh lợi. Tâm trí của họ sắc bén cách đặc biệt. Trước khi được cứu, họ sử dụng tâm trí ấy để học triết lý, khoa học và văn chương. Sau khi được cứu, họ dùng tâm trí mình để học Lời Chúa cách dễ dàng. Nhưng chúng ta phải hỏi: “Tâm trí sắc bén ấy đến từ đâu? Đã được thập tự giá xử lý chưa? Có ở dưới sự cai trị của Thánh Linh không? Hay đó chỉ là tâm trí họ đã có từ đầu?” Nếu vậy, đó chỉ là một điều ra từ A-đam bụi đất, ra từ chính con người, từ bản chất con người, và thuộc về xác thịt. Mặc dầu họ đã thay đổi đề tài, tâm trí họ vẫn là tâm trí cũ kỹ! Và khi họ dùng tâm trí này để học Kinh-thánh, thay vì giúp đỡ hội-thánh, họ sẽ làm cho hội-thánh bị thiệt hại. Chỉ có điều gì ra từ Đấng Christ mới có thể là hội-thánh. Bất cứ điều gì ra từ con người không phải là hội-thánh. Đức Chúa Trời phải xử lý chúng ta đến mức mọi điều từ bản chất thiên nhiên của chúng ta đều phải bị kiểm chế. Năng lực thiên nhiên của chúng ta phải được thập tự giá xử lý và phục tùng sự cai trị của Thánh Linh. Chỉ khi ấy chúng ta mới không gây thiệt hại cho hội-thánh. Mọi điều ra từ sự sống A-đam thiên nhiên trong chúng ta được làm bằng bụi đất và không phải là điều Đức Chúa Trời mong muốn. Chỉ có điều gì làm bằng xương sườn của A-đam mới là Ê-va. (Xương tượng trưng cho sự sống phục sinh. Khi Chúa ở trên thập tự giá, không một cái xương nào của Ngài bị gãy). Chỉ có điều nào được hình thành từ sự sống phục sinh của Đấng Christ mới là hội-thánh. Ê-va phải được tạo thành do xương của A-đam. Không có xương của A-đam thì cũng không có Ê-va. Người giúp đỡ tương xứng của A-đam cũng là thân thể của A-đam, vì nguồn gốc của sự sống Ê-va là chính xương của ông. A-đam là nền tảng của sự hiện hữu của Ê-va. Bà chỉ có thể tồn tại vì một phần của A-đam ở trong bà. Đối với hội-thánh cũng vậy, Chúng ta cần liên tục tuyên bố với Chúa: “Chúng con nợ Ngài mọi sự. Không có Ngài, chúng con không có sự sống, không hiện hữu, không có gì cả! Chúng con ra từ Ngài!” Điểm quan trọng của sự tái sinh chúng ta chỉ là như vầy: sự ăn năn không làm cho chúng ta trở nên một phần của hội-thánh; sự xưng tội hay đức tin của chúng ta cũng không. Chỉ có sự sống mà Đấng Christ đã truyền đạt cho chúng ta làm cho chúng ta nên một phần của hội-thánh. Nền tảng mà nhờ đó chúng ta trở nên một phần của hội-thánh là sự tái sinh của chúng ta, vì khi ấy Đấng Christ truyền đạt chính Ngài cho chúng ta. Vì vậy, chúng ta cần sống, cư xử và hành động theo sự sống này, là sự sống của Đấng Christ. Đức Chúa Trời không thể làm gì cho chúng ta hơn là truyền đạt Con Ngài vào trong chúng ta để chúng ta có thể dự phần vào sự sống của Đấng Christ. Mặc dầu chúng ta chỉ là những bình đất, có một kho tàng lớn lao trong chúng ta. Điều gì có thể làm cho chúng ta rúng động? Tuy nhiên, nếu chúng ta hành động theo con người của mình, chúng ta ở bên ngoài hội-thánh. Bất cứ điều nào khác hơn “phần” của Đấng Christ trong chúng ta đều không phải là hội-thánh, mà chỉ là bản ngã của chính mình. Nếu chúng ta làm việc theo con người mình thì không phải chúng ta đang làm công việc Chúa. Chúng ta phải tự hỏi mình trên căn bản nào và từ nguồn nào mà chúng ta đang hầu việc Chúa, làm công việc Ngài, theo đuổi những điều thuộc linh, và sống đời sống thuộc linh. Mọi điều chúng ta làm dựa trên Đấng Christ hay dựa trên chính mình? Nếu làm mọi việc bằng chính Đấng Christ, chúng ta có thể hoàn thành mục đích của Đức Chúa Trời, nhưng nếu chúng ta làm mọi điều do chính mình, mặc dầu điều ấy hoàn tất, nó chỉ thuộc bản chất bụi đất và không thể hoàn thành ý muốn đời đời của Đức Chúa Trời. Mục đích đời đời của Đức Chúa Trời là chiếm hữu được một con người. Con người này là một con người tập thể ra từ Đấng Christ. Ấy là hội-thánh. Hội-thánh không phải là vấn đề một vài Cơ-đốc-nhân này họp lại với một vài Cơ-đốc-nhân khác. Không phải là nhiều “con người”, mà là sự sống. Hội-thánh là hội-thánh chỉ vì có nhiều người chia sẻ cùng một sự sống, cùng một Đấng Christ. Anh em có một phần của Đấng Christ, và người kia có một phần của Đấng Christ; mỗi người trong chúng ta có một phần của Đấng Christ. Khi tất cả những phần của Đấng Christ họp lại với nhau, đó là hội-thánh. Chúng ta phải sáng tỏ rằng Đức Chúa Trời không mong muốn có các cá nhân. Đức Chúa Trời tạo nên con người, người nam và người nữ. Người nam là số ít và người nữ cũng là số ít. Đấng Christ là số ít, và hội-thánh cũng là số ít. Theo mắt Đức Chúa Trời chỉ có một Đấng Christ và chỉ có một hội-thánh. Trong tương lai chúng ta sẽ thấy chỉ có một con người ở âm phủ và một con người ở trên các từng trời; không có con người thứ ba. Theo mắt Đức Chúa Trời, Ngài chỉ thấy hai con người trên cả thế giới. 1 Cô-rin-tô chương 15 bày tỏ A-đam là con người đầu tiên và Đấng Christ là con người sau cùng. Không có người nào khác. Thân Thể của Đấng Christ, cũng như Ê-va, chỉ có một, không có nhiều! Vì vậy, mặc dầu chúng ta có sự sống của Đức Chúa Trời ở bên trong, chúng ta vẫn cần Đức Chúa Trời hành động trên chúng ta để phá vỡ chủ nghĩa cá nhân của mình. Đức Chúa Trời phải phá vỡ cái tư tưởng cho rằng chỉ một mình tôi là đủ. Chúng ta cần hiệp một với mọi con cái khác của Đức Chúa Trời. Chỉ có một Ê-va; cũng vậy, chỉ có một Thân Thể của Đấng Christ. Tất cả các con cái của Đức Chúa Trời, tất cả những người cùng san sẻ sự sống của Đấng Christ, đều không phải là nhiều cá nhân nam nữ; họ chỉ là một người. Đức Chúa Trời phải phá vỡ chủ nghĩa cá nhân của chúng ta. Ngài phải đập vỡ chúng ta hằng ngày cho đến khi chúng ta nhận biết sự sống của Thân thể. Nhiều người nghĩ rằng họ có thể là những Cơ-đốc-nhân hoàn toàn độc lập! Nhưng Đức Chúa Trời không cho phép như vậy. Những lời cầu nguyện cá nhân của họ thường không được đáp lời, sự nghiên cứu Kinh-thánh cách cá nhân không soi sáng cho họ, và sự tìm kiếm cách cá nhân không dẫn họ đến ý muốn của Đức Chúa Trời. Một người như vậy nên thưa với một anh em hay một chị em khác rằng: “Tôi không thể tự giải quyết vấn đề này, anh hay chị giúp tôi được không?”, họ sẽ cầu nguyện với nhau, và cuối cùng người ấy sẽ được sáng tỏ. Bất cứ điều gì người ấy không thể tự hiểu, thì sẽ được hiểu rõ khi tìm được câu giải đáp với anh em mình. Một người như vậy thường vẫn còn kiêu ngạo, nghĩ rằng mình có thể tự giải quyết hầu hết mọi việc, và chỉ có một vài lần mình không thông suốt. Đó là chủ nghĩa cá nhân. Trong hội-thánh, chủ nghĩa cá nhân phải bị phá vỡ. Chúng ta phải cho phép Đấng Christ trong chúng ta và Đấng Christ trong tất cả các anh chị em khác trở nên gắn bó với nhau trong một Thân Thể. Nhiều Cơ-đốc-nhân biết sự sống họ có trong Đấng Christ, nhưng chúng ta rất tiếc phải nói rằng họ không biết sự sống trong Thân Thể của Đấng Christ. Cũng như sự sống của Đấng Christ là một thực tại, sự sống trong thân thể của Đấng Christ cũng là một thực tại. Các Cơ-đốc-nhân không phải là những cá nhân; họ là một. Sứ đồ Phao-lô nói chúng ta dầu nhiều, vẫn là một bánh và một Thân Thể. Nếu sống theo Đấng Christ, chúng ta là một với tất cả những Cơ-đốc-nhân khác. Nhưng nếu sống theo chính mình, chúng ta phân rẽ khỏi tất cả những con cái của Đức Chúa Trời. Vì vậy, có hai bước cần thiết để hội-thánh trở nên một hội-thánh thật: sự lan toả hay gia tăng Đấng Christ và sự tiêu hủy bản ngã của chúng ta. Sự lan toả Đấng Christ bắt đầu lúc chúng ta được tái sinh; và, từ khi chúng ta được cứu, Chúa hành động trong chúng ta ngày này qua ngày khác để tiêu hủy bản ngã chúng ta. Chúa sẽ tiếp tục công việc của Ngài cho đến một ngày chúng ta có thể nói trước mặt Đức Chúa Trời rằng: “Không một điều nào con có thể tự mình làm được. Mỗi việc con làm, đều làm theo nguyên tắc giúp đỡ hỗ tương giữa vòng các chi thể. Tất cả những gì con thực hiện đều theo nguyên tắc tương giao, là nguyên tắc của Thân Thể”. Hội-thánh là Thân Thể của Đấng Christ. Chỉ có điều gì thuộc về Đấng Christ mới là hội-thánh; bất cứ điều gì ra từ con người thì không phải là hội-thánh. Chúng ta phải nhận biết rằng Đức Chúa Trời lưu tâm đến nguồn gốc của những sự việc, chứ không lưu tâm đến việc chúng tốt hay xấu. Loài người luôn luôn hỏi: “Điều ấy tốt hay xấu?” Nhưng Đức Chúa Trời hỏi: “Điều ấy đến từ đâu?” Điều ra từ A-đam được gọi là Ê-va; cũng vậy, điều ra từ Đấng Christ được gọi là hội-thánh. Bất cứ điều gì không ra từ Đấng Christ thì không phải là hội-thánh. Người ta hỏi: “Anh có yêu thương không?” Nhưng Đức Chúa Trời hỏi: “Tình thương của con đến từ đâu?” Người ta hỏi “Anh có nhiệt thành không?” Nhưng Đức Chúa Trời hỏi: “Lòng nhiệt thành của con đến từ đâu?” Chúng ta cần phải giải quyết vấn đề nguồn gốc, chứ không phải tốt hay xấu. Câu hỏi tốt hay xấu đến sau Sáng-thế Ký chương 3. Có lẽ một người nào đó sẽ nói: “Tôi không có khả năng sao? Tôi không nhiệt thành sao?” Nhưng vấn đề là khả năng và lòng nhiệt thành của anh đến từ đâu? Chúng ta thường cảm thấy tự mình có khả năng yêu thương và giúp đỡ người khác. Dĩ nhiên yêu thương và giúp đỡ người khác là điều tốt, nhưng “nếu tôi bỏ thân mình để có thể khoe khoang (hay để chịu đốt - theo bản tiếng Việt và vài bản dịch khác), nhưng nếu không có tình yêu thương”, tức tình yêu thương của Đấng Christ, “thì chẳng ích chi cho tôi” (1 Côr. 13:3). Dâng mình để giúp đỡ người khác có gì sai lầm không? Vấn đề vẫn y như vậy: Hành động ấy đến từ đâu? Chỉ có điều nào đến từ Đấng Christ mới là hội-thánh. Bất cứ điều nào không ra từ Đấng Christ thì không có liên quan gì đến hội-thánh. Trong đời sống Cơ-đốc của chúng ta, bài học đầu tiên và cuối cùng chúng ta cần học là phân biệt nguồn gốc mọi sự. Bài học đầu tiên là từ bỏ tất cả mọi điều ra từ chúng ta, và bài học cuối cùng vẫn là từ bỏ tất cả những gì ra từ chúng ta. Điều này không có nghĩa là chúng ta không nên phấn đấu hay không nên nhiệt thành, nhưng vấn đề là sự phấn đấu và nhiệt thành của chúng ta phải đến từ Chúa. Chúng tôi không nói chúng ta không nên làm việc, nhưng chúng ta muốn những công việc bắt nguồn từ Chúa. Chúng tôi không nói chúng ta không nên tìm kiếm quyền năng, nhưng chúng ta nên tìm kiếm quyền năng đến từ Chúa. Đây là toàn bộ vấn đề: Điều đó bắt nguồn từ đâu? Trong Phúc-âm Giăng, Chúa Giê-su từng phán: “Con không thể làm gì từ chính mình” (Giăng 5:19). Theo bản Hi-văn, chữ “từ” cũng có thể dịch là “ra từ”. Điều này nghĩa là Con không thể làm gì “ra từ” chính Ngài. Nếu đối với Chúa mà như vậy, thì với chúng ta còn phải đến mức thế nào! Làm thế nào chúng ta có thể thực hiện một điều gì ra từ chính mình? Chúng ta cần thấy trước mặt Đức Chúa Trời chúng ta không thể làm gì ra từ chính mình. Ngài phải đem chúng ta đến chỗ nhận biết chúng ta thật sự không thể tự làm điều gì, mọi sự phải bởi Ngài và ra từ Ngài. Khi chúng ta hầu việc Chúa, lòng nhiệt thành vẫn chưa đủ. Không, chúng ta phải làm công việc nào Chúa chỉ định cho mình. Trong Cô-lô-se 1:29, Phao-lô nói: “Cũng vì đó mà tôi chịu lao khổ, chiến đấu theo sự hành động của Ngài đang hành động trong tôi cách quyền năng”. Đức Chúa Trời đang hành động trong chúng ta để chúng ta có thể làm việc ra bên ngoài. Chúng ta thường làm nhiều điều bên ngoài, nhưng không có nhiều điều được thực hiện ở bên trong. Đức Chúa Trời chưa hành động được bên trong nhiều như vậy; hầu hết những điều được thực hiện là do chính chúng ta. Loại công việc này cho dầu có thể là đáng kể, vẫn không ích lợi gì cả. Trong vấn đề hầu việc Chúa, Đức Chúa Trời phải đem chúng ta đến chỗ chúng ta không mong muốn bất cứ điều gì không đến từ Chúa. Nếu Chúa không chuyển động, khi ấy chúng ta không dám chuyển động. Ê-va là xương của xương A-đam và là thịt của thịt ông. Điều này nghĩa là xương ở bên trong và thịt ở bên ngoài đều ra từ Đấng Christ. Mọi sự ở bên trong và mọi sự ở bên ngoài đều là của Ngài; không có điều gì ra từ chúng ta. Mọi sự của Ê-va ra từ A-đam, và mọi sự của hội-thánh ra từ Đấng Christ. Cho dầu chúng ta có thể làm điều gì tốt đến đâu chăng nữa, điều ấy cũng hoàn toàn vô ích trong việc đạt đến mục đích đời đời của Đức Chúa Trời. Cho dầu một điều nào đó tốt đến đâu chăng nữa, nó vẫn không thể làm vinh hiển Đức Chúa Trời nếu bắt nguồn từ chúng ta. Người nữ đầu tiên tượng trưng cho người nữ theo lòng của Đức Chúa Trời. Không những có một người nam bày tỏ lòng Đức Chúa Trời, mà cũng có một người nữ nữa. Không những Đấng Christ làm thỏa lòng Đức Chúa Trời; mà còn có hội-thánh nữa. Đấng Christ làm thỏa lòng Đức Chúa Trời, vì Ngài để Đức Chúa Trời làm đầu của Ngài. Đối với hội-thánh cũng vậy. Hội-thánh cũng phải để Đức Chúa Trời làm đầu của mình. Khi hội-thánh đạt đến vị trí này, ý muốn của Đức Chúa Trời sẽ được thực hiện. Đức Chúa Trời dự định có loại người này trên đất, và khi Ngài đạt được, lòng ao ước của Ngài sẽ được thỏa mãn. Chúng ta hãy nhớ bất cứ điều nào ra từ bản ngã con người chỉ là bụi đất, và không xứng đáng làm vật liệu để tạo nên người giúp đỡ tương xứng. Chỉ có điều gì ra từ Đấng Christ mới là hội-thánh. (Theo đường lối Khôi phục của Đức Chúa Trời)
|
|||
Những Góp Ý Mới
7 tuần 2 ngày trước
6 tuần 1 ngày trước
8 tuần 12 giờ trước
8 tuần 3 ngày trước
8 tuần 5 ngày trước
8 tuần 6 ngày trước
9 tuần 4 ngày trước
9 tuần 4 ngày trước
9 tuần 5 ngày trước
9 tuần 6 ngày trước